Showing posts with label du-lich-mien-trung. Show all posts
Showing posts with label du-lich-mien-trung. Show all posts

Wednesday, August 10, 2011

Thung lũng Tình yêu (Đà Lạt)


Cách trung tâm thành phố khoảng 6km về hướng Đông Bắc, Thung lũng Tình yêu là thắng cảnh thơ mộng và trữ tình nhất của Đà Lạt. Ban đầu, người Pháp gọi nơi đây là Vallée D’amour sau nó được đổi tên thành Thung lũng Hòa Bình và năm 1953 trở lại là Thung lũng Tình yêu.Thung lũng Tình Yêu đẹp và cuốn hút bởi lũng sâu và đồi thông. Năm 1972, một đập ngăn nước được xây dựng vắt ngang qua thung lũng tạo thành hồ Đa Thiện, làm tăng thêm sức quyến rũ cho cảnh quan chung, đồng thời xuất hiện thêm hai tên gọi khác bên cạnh Thung lũng Tình Yêu là đập 3 và hồ Đa Thiện 3.



Du khách có thể men theo những lối mòn hoặc leo cả trăm bậc, đi qua những cổng hoa với màu sắc rực rỡ để lên đồi Vọng Cảnh. Từ đây, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa một bức tranh sinh động.




Những con đường đất đỏ uốn lượn vòng vèo đưa khách lên đồi hoặc dẫn đến tận đỉnh núi Langbian thấp thoáng trong mây. Du khách cũng có thể vượt qua chiếc cầu nhỏ để khám phá đồi Địa Đàng, một địa điểm lý tưởng nhờ được bao quanh bởi hồ nước.




Thung lũng Tình Yêu là một địa danh du lịch sinh thái lý tưởng và hấp dẫn đã trở nên quen thuộc với du khách gần xa.

phố cổ Hội An (Quảng Nam)


Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ 19, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam.

Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phần bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp. Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.


Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1999, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí:[1]
Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.
Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo.

Độc Đáo ghềnh Đá Đĩa, Phú Yên


Ghềnh Đá Đĩa thuộc xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Là một ghềnh đá có cấu tạo kỳ lạ với nhiều tảng đá lớn hình ngũ giác xếp đều đặn, lớp nọ sát lớp kia trên một vùng rộng lớn.
Ghềnh Đá Đĩa rộng khoảng 1km², trông xa ta liên tưởng đó là một tổ ong khổng lồ. Đá có màu đen tuyền, nửa chìm nửa nổi bên bờ biển xanh. Ở giữa ghềnh có một hõm trũng, lâu ngày nước mưa nước biển động vào tạo thành một vũng, nhìn rõ cá đang bơi tung tăng, sóng biển xô vào ghềnh tung bọt trắng xóa, rất ấn tượng.

Đây là một thắng cảnh kỳ thú hiếm thấy của thiên nhiên đã được xếp hạng là thắng cảnh quốc gia. Đá ở đây đều tăm tắp dựng thành từng cột liền khít nhau. Các cột đá có tiết diện hình lục giác hoặc hình vuông, hoặc có hình tròn như chiếc đĩa.
Đến với ghềnh đá du khách cứ ngỡ như đang chiêm ngưỡng một tác phẩm trò chơi Lego. Những viên đá hình tròn và đa giác xếp chồng, khít vào nhau trông thật lạ. Mỗi viên đá có độ cao chừng 60-80 cm.


Bên cạnh ghềnh đá đĩa là khu vực Bãi Bàng, với những tảng đá màu vàng sáng, phía trước ghềnh đá đĩa là một hang sâu và rộng có thể chứa cả trăm người.

Du Lịch Ngũ Hành Sơn ( Đà Nẵng)


Dường như ai từng biết đến Đà Nẵng là biết đến Ngũ Hành Sơn. Nó nổi tiếng đến độ nhiều người muốn xem nó như là biểu tượng của vùng đất này. Không gian huyền ảo, thơ mộng, chùa chiền và hang động, cây cỏ và tiếng chuông chùa, sóng vỗ và những dằng dặc nghìn trùng... cách không xa trung tâm thành phố, Ngũ Hành Sơn từ lâu đã thật sự là một cõi thiên thai dành cho du khách.

Gần 200 năm trước, vua Minh Mạng đã từng đến đây. Ông đã tự mình đặt tên cho núi, cho các hang động, chùa chiền. Không ai biết những cái tên như Ngũ Hành Sơn, Huyền Không, Hóa Nghiêm, Lăng Hư, Tàng Chân, Vân Nguyệt, Thiên Long... đã làm nhà vua phải suy nghĩ mất hết biết bao nhiêu thời gian. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, giữa những lo toan quốc kế dân sinh, trong tâm hồn của con người này, cảnh trí Ngũ Hành Sơn đã chiếm một phần quan trọng như một nỗi tự hào về một miền đất xinh đẹp.
Nơi đây, các dấu ấn văn hoá lịch sử còn in đậm trên mỗi công trình chùa, tháp đầu thế kỷ XIX, trên mỗi tác phẩm điêu khắc Chàm của thế kỷ XIV, XV. Những bút tích thi ca thời Lê, Trần còn in dấu trên các vách đá rêu phong trong các hang động. Những di tích văn hoá lịch sử như mộ mẹ tướng quân Trần Quang Diệu, đền thờ công chúa Ngọc Lan (em gái vua Minh Mạng), bút tích sắc phong quốc tự còn lưu giữ tại chùa Tam Thai của triều Nguyễn, đến các di tích lịch sử đấu tranh cách mạng như Địa đạo núi đá Chồng, hang Bà Tho, núi Kim Sơn, hang Âm Phủ,... Tất cả chứng minh hùng hồn về một Ngũ Hành Sơn huyền thoại, về một vùng đất địa linh nhân kiệt đầy chất sử thi.

Cũng như nhiều địa danh khác, những ngọn núi này bao bọc quanh mình nó rất nhiều những huyền thoại khác nhau. Không gian thơ mộng của cảnh trí và vẻ bãng lãng cổ tích của những câu chuyện cổ đã mang lại cho Ngũ Hành Sơn cái ý vị mà ít nơi nào có được. Trong tư duy triết học của Trung Hoa, Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là những yếu tố cấu thành vũ trụ. Con số 5 là con số cực kỳ quan trọng trong tư duy và trong đời sống phương Đông. Nhìn như thế, trong sự trùng hợp ngẫu nhiên, 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn tự trong mình nó đã hàm chứa những vẻ kỳ bí dị thường.
Cũng tại nơi đây, các hang động, cảnh quan tự nhiên và hệ thống chùa chiền vừa ngẫu nhiên, vừa có ý thức đã tạo ra một vẻ đẹp hài hòa, có cái quyến rũ, mời mọc nhưng cũng có những ý tứ, kín đáo, che giấu niềm cảm xúc bất ngờ trong suốt cuộc hành trình tham quan của du khách.
Vào những ngày hè, thử hình dung ta cùng bạn bè cất bước trên 108 bậc đá dẫn lên ngọn Thủy Sơn, ngồi nơi Vọng Giang đài nhìn con sông Trường Giang chảy xanh biếc trong hoàng hôn, hoặc đứng trên Vọng Hải đài dõi nhìn bãi cát cắt dọc theo con sóng. Buổi chiều người thành phố đổ xô ra biển, từng tốp ngư dân nhẫn nại đẩy thuyền thúng ra khơi, phía sau là những con đường đầy lá mục dẫn về các động, bên trong những ngôi chùa, mùi nhang trầm lặng lẽ tỏa hương... Một ngày ở Ngũ Hành Sơn như thế cho ta thêm yêu cuộc sống biết bao.

hắng cảnh hang Ông Già, Nha Trang


Từ trung tâm thành phố Nha Trang, theo đường 2.4 xuôi hướng bắc chừng 4km gặp bưu điện Đồng Đế – đối diện là đường Mai Xuân Thưởng. Cứ theo đường này bạn sẽ  đến được với hang Ông Già, một thắng cảnh đẹp của thành phố biển Nha Trang.

Trước đây, khi đến với hang Ông Già, người ta chọn  tượng đài Đức Kitô Vua trước nhà thờ giáo xứ Ba Làng làm trạm dừng chân chờ nhau và cũng là để kiểm tra hành trang lẫn phương tiện trước khi tiếp tục hành trình. Từ đây sẽ đi qua thôn Ba Làng, thôn Đường Đệ. Quãng đường từ thôn Đường Đệ đến bãi Tiên dài gần 2km nhưng là quãng đường nguy hiểm nhất với lối đi nhỏ, mặt đường lô nhô đá, một bên là vách đá thẳng đứng cheo leo chằng chịt cây dại và một bên là vực thẳm mênh mông một màu xanh thẳm với những ghềnh đá. Đến bãi Tiên  đi bộ chừng 30 phút rồi leo qua ngọn núi cao độ khoảng 30m bằng đường mòn của những người đi rừng săn bắt động vật hoang dã và đi câu “mở ra”. Đó là hình ảnh ký ức của một hành trình đi đến hang Ông Già của mười năm trước.

Ngày nay, đến hang Ông Già rất dễ dàng với chiều dài quãng đường gần 7km chạy dọc theo bờ biển của vịnh Nha Trang mà người Nha Trang gọi là “con đường vàng”. Từ tháp Trầm Hương ở quảng trường 2 Tháng 4 đi theo đường Trần Phú ra hướng bắc vượt cầu Trần Phú rồi theo đường Phạm Văn Đồng trực chỉ ra tận chân núi của mũi Kê Gà với thời gian 15 phút và cũng chỉ tốn 10 phút để trèo núi qua hang Ông Già. Đường qua hang cũng dễ dàng hơn với các bậc tam cấp rộng rãi được lát bằng đá và hai bên là những hàng bạch đàn xanh rì màu lá che nắng cho du khách tìm đến hang cùng những rẫy chuối chen chúc nhau. Tuy đường đến hang đã đẹp hơn, rộng rãi hơn nhưng vì vậy cũng mất đi những ghềnh đá đẹp, giờ đây đoạn bờ biển từ thôn Đường Đệ ra đến bãi Tiên cũng không còn chỗ để du khách thưởng lãm vì đã nhường chỗ cho những  nhà hàng.

Bạn sẽ thấy gì ở hang Ông Già? Đó là một thắng cảnh hùng vĩ với những ghềnh đá, hang đá nối dài với nhau như một vịnh Hạ Long thu nhỏ được tái tạo ở Nha Trang. Nổi bật nhất vẫn là hang với nhiều điều kỳ bí bên trong, một đường nhỏ ngoằn nghèo hình chữ Z dẫn sâu vào trong hang. Bên trong hang có một hồ tròn có thể tắm cùng lúc chục người và khi thuỷ triều xuống lúp xúp dưới mặt nước là những hòn đá cuội tròn đều đủ màu sắc óng ánh do nguồn sáng từ trên đỉnh hang rọi xuống. Xung quanh bên ngoài hang là những dãy san hô với muôn vàn loài cá, ốc các loại… thích hợp cho những tay câu sát cá, can đảm hơn bạn có thể lặn với dụng cụ lặn đơn giản để tìm những chú ốc mặt trăng, ốc ngựa, vú nàng làm món nướng nhâm nhi với bạn bè. Xung quanh hang còn rất nhiều bãi cát trắng, bãi sỏi rộng thích hợp cho các sinh hoạt tập thể cho nhóm 30 người .

Nhà thờ dòng chúa Cứu Thế



Vị trí: Nhà thờ nằm ở cuối đường Nguyễn Huệ, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm: Nhà thờ dòng chúa Cứu Thế kết hợp hài hòa giữa kiến trúc Tây Phương và Đông Phương.


Nhà thờ bắt đầu được xây dựng vào năm 1937 và đến năm 1942 thì xong.

Ðiều đặc biệt của kiến trúc ngôi nhà thờ này là cửa rộng và không có vách. Phần hiên của thánh đường được thiết kế rộng để khi đông người đến dự lễ, có thể mở cửa và tạo cho người ở ngoài hiên vẫn có cảm giác đang ở trong lòng thánh đường.
Bàn thờ chính được làm bằng đá cẩm thạch màu hồng, nguyên phiến dài 3,6m rộng 1,25m và cao 28cm. Cạnh bàn thờ chính còn có hai bàn thờ nhỏ hơn cũng làm bằng đá cẩm thạch hồng nguyên phiến. Trong nhà thờ còn có trống, chiêng mang đậm tính cách Á Ðông.

Phía ngoài hành lang có một phòng nhỏ đựng tro cốt để khi gia đình của những người theo đạo thiên chúa giáo qua đời thì có thể đốt hài cốt thành tro, cho vào tiểu nhỏ để thờ (có thắp hương).
Tháp chuông gồm có 4 quả chuông được điều khiển bằng điện.
Nhà thờ dòng chúa Cứu Thế, đỉnh có chóp nhọn vươn thẳng lên trời, phần thân nhà thờ được lợp ngói có mái, kết hợp hài hoà giữa kiến trúc Tây phương và Ðông phương. Ðây là một ngôi nhà thờ có kiến trúc đẹp ở Tp. Huế.

Động Phong Nha



Giấu mình trong núi đá vôi được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới, Phong Nha giờ đây đã trở nên nổi tiếng bởi sự hào phóng của tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất này một hệ thống hang động thật lộng lẫy với con sông ngầm được xác định là dài nhất thế giới.


Ðộng nằm ở vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, cách thị xã Ðồng Hới 50 km về phía tây bắc. Từ Ðồng Hới, đi ô tô đến xã Sơn Trạch, sau đó đi thuyền trên sông Son, khoảng 30 phút thì đến động. Chỉ cách đây vài năm, đây còn là một con đường đất đỏ, mưa thì lầy lội, nắng thì bụi bẩn. Nơi mà một thời bom đạn chiến tranh đã không chừa một tấc đất, một nhành cây, một ngọn cỏ. Nhưng giờ đây, chính con đường này đã thổi một luồng sinh khí mới cho bộ mặt của cả vùng núi hoang sơ này.

Nếu như đấng tạo hoá đã tạo ra con người thì hình như chính tạo hoá lại chở che cho chúng. Trải qua bao cuộc chiến, Ðộng Phong Nha vẫn còn đó, nguyên sơ như hàng triệu năm về trước.

Những làng quê yên bình nằm xen kẽ giữa những lùm tre thấp thoáng mái nhà nâu đỏ bên hữu ngạn sông Son. Những O thôn nữ đứng gọi đò bên bến nước, những chiếc thuyền đưa khách ngước xuôi, chào hỏi nhau bằng ngôn ngữ của nhiều vùng làm sống động cả bến sông. Thuyền cập bến cũng là lúc du khách bắt đầu một cuộc hành trình khám phá một mê hồn cung giữa chốn đời thường.

Ðộng Phong Nha có rất nhiều nhánh với chiều dài lên đến khoảng trên 20 km, nhưng hiên nay người ta mới khám phá nhánh dài nhất là một phần của con sông ngầm có tên là Nậm Aki mà sông Son là phần lộ ra mặt đất, nó chui ngầm dưới đất ở vùng núi Pu-Pha-Ðam cách đó hơn 20km về phía Nam. Trước cửa động, cảnh núi non sông nước càng thêm quyến rũ, thiên nhiên hùng vĩ với vô vàn hình ảnh kỳ thú hiện ra như khêu gợi trí tưởng tượng của con người. Người ta đã khéo đặt tên cho cảnh đẹp nơi đây là Ðộng Phong Nha (Ðộng Răng Gió). Vào mùa nước lớn. nước sông Son dâng cao che khuất cửa hang, thuyền du lịch không vào đây được. Tương truyền hơn một trăm năm về trước, ông vua trẻ Hàm Nghi đã ẩn mình ở đây cùng một số cận thần và ra lời kêu gọi Cần Vương.

Cửa động rộng khoảng 20 mét, cao 10 mét, có nhũ đá lô nhô. Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước. Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn. Xen lẫn với tiềng mái chèo như có tiếng chiêng “bi …tùng …bi” vẳng lên, người bản địa cho rằng đó là âm nhạc trong tiệc riệu của Thần Núi vọng ra… tất cả hợp thành tiếng nhạc, lúc âm u như tiếng chiêng, lúc bập bùng như tiến trống. Ðộng chính của động Phong Nha gồm 14 buồng nối liền bởi một hành lang nước dài đến 1500m. Từ buồng thứ 14 ta còn có thể theo những hành lang hẹp khác đi vào sâu hơn nữa đến những buồng cũng to rộng không kém nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hoá đá vôi vẫn còng tiếp tục. Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là Hang nước cạn: nước biến đi nhường chỗ cho đá cát. Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ kịch thích trí tưởng tượng.

Phong Nha không giống như những điểm du lịch khác ở Việt Nam, động nằm trong khu rừng nguyên sinh Kẻ Bảng dường như còn nguyên sơ và tinh khôi. Trong con mắt của những vị du khách du lịch, những cư dân bản địa nơi đây mang một phong cách rất riêng “Họ cư xử thân thiện và tình cảm mang tính cách của người nông dân thuần kiết hơn là nhìn nhân du khách như là một cơ hội để tìm kiếm nguồn tài chính. Ðiều này càng làm cho Phong Nha thêm hấp dẫn khách du lịch”.

Tháng 4 – 1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắng Phong Nha – Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất:

1. Hàng nước dài nhất
2. Cửa hàng cao và rộng nhất
3. Bãi cát và đá rộng đẹp nhất
4. Hồ ngầm đẹp nhất
5. Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất
6. Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam (13.969 m)
7. Hàng khô rộng và đẹp nhất.


Lễ hội Thu Bà Bồn ở Quảng Nam

Thu Bồn là một trong những dòng sông lớn của miền Trung Việt Nam. Cách đây hai ngàn năm, người Sa Huỳnh và sau đó là các Vương triều Champa đã dể lại những dấu vết đặc sắc của một nền văn minh rực rỡ, dọc theo hai bên bờ sông, từ Cửa Đại cho đến thượng nguồn.Ngày 12 tháng 2 âm lịch hằng năm là ngày lễ Bà Thu Bồn. Trước đây, các làng chài từ Thừa Thiên - Huế đến Quảng Ngãi, Bình Định đều cử những đội đua ghe về tham gia lễ hội. Lễ hội kéo dài 3 ngày đêm với nhiều nghi thức phong phú, sôi động.

Lăng Bà tuy đã mang nhiều nét hoang phế bởi thời gian, nhưng dân làng Thu Bồn vẫn một lòng thành kính trước uy linh của Bà. Người già kể rằng : "Hồi xưa, Bà thiêng lắm ! ". Có người làng đến xin Bà cứu một người đẻ khó, Bà nhập vào xác đồng rồi cầm cây đèn cầy chạy băng qua cánh đồng rộng mà đèn vẫn không tắt, đến nơi bà đưa tay vuốt một cái, thai sổ ngay. Lần khác, năm Mậu Thìn (1928), làng Thu Bồn mất mùa, mọi người bàn nhau lễ hội Bà năm ấy làm đơn giản thôi. Đang bàn thì có một con bò đi vào giữa sân rồi nằm xuống, trên sừng có treo một xâu ba ngàn quan tiền. Mọi người biết là Bà cho tiền và lấy tiền tổ chức hội, còn bò thì thả vào rừng.

Có người theo dõi thấy bò đi vào khu tháp Mỹ Sơn rồi nằm xuống và hoa thành đá.Lần sắc phong đầu tiên dưới triều Minh Mạng, Bà Thu Bồn không có tên. Bà nhập đồng ở giữa kinh thành Huế để chất vấn. Quan phụ trách hỏi rằng làm thế nào để tin bà thiêng ? Bà bảo : Sẽ làm cháy chợ Đông Ba ! Một lúc sau có người chạy vào báo chợ đang cháy. Quan xin đừng cháy nữa, lập tức có một trận mưa như trút nước. Tờ sắc phong của triều đình nhà Nguyễn cho Bà Thu Bồn ghi : "Thiên Y A Na diễn phi chu ngọc tôn thần, hộ quốc túy dân, hiển hữu công đức tiết mộng ban cấp tôn thần".Như vậy, Bà Thu Bồn chính là một nữ thần bảo hộ của người Chàm, và người Việt đã tiếp nhận sự linh thiêng của vị nữ thần này với một niềm tin mạnh mẽ và được duy trì qua các lễ hội thành kính hàng năm.

Nét nguyên sơ hồ Núi Một, Bình Định


Nhiều điều thú vị đó đang nằm lẩn khuất trong một thung lũng có tên Hồ Núi Một được dãy An Trường (thuộc tỉnh Bình Định) bao bọc. Bề rộng mặt hồ 12km2 kéo theo ào ạt những làn gió the mát, rồi khuất xanh tầm mắt với vành đai núi rừng che phủ những thác nước không tên nhiều tầng nhiều lớp và tinh trong những tiếng động khẽ khàng được phát ra rõ mồn một từ chốn vắng bóng người.


Sau những cuốc thuyền khám phá thiên nhiên quanh thung lũng, ngôi làng nhỏ của dân tộc Bana hiện ra len lỏi nơi cuối hồ như món quà lưu niệm đáng giá dành tặng cho chuyến đi ngắn ngày. Thềm làng ngoan ngoãn đón đưa những chuyến đò mưu sinh ngắn ngày đi và về. Hơn 90 hộ dân tạo ra bản làng này thực sự là những trang đời sinh động. Làng hoang sơ từ mái nhà đến tận tư duy sinh tồn của người dân. Sự đa sắc từ các mối quan hệ trong gia đình này là một minh chứng thuyết phục cho bản năng yêu thương của loài người.

Đã có những “ao nuớc lã” được biến thành “giọt máu đào” nơi đây. Một phần thành viên trong gia đình này là những người xa lạ cơ nhỡ. Tình cờ họ đến, ở lại, yêu thương và gắn trách nhiệm với nhau qua nhiều đời con cháu. Đó là những thím dì độc thân, lưu lạc vẫn hàng ngày đi bán cái nón, cái áo tự đan đổi vài cân gạo góp công nuôi cháu tiếp ông anh nối khố…

Có những nét mặt, những khoé cười không thể nhoà khi đã gặp tại đây. Từ nếp cằn cỗi của người ông người bà đến cái mơn mởn ngăm đen của đứa trẻ vừa chập chững. Được gặp họ thú vị và hồ hởi như gặp lại mình của ngày hôm qua. Những chằng chịt quan hệ trong đời sống giờ đây dường như được hoá giản đến tối giản nhất. Đây chính là nét nguyên sơ có thể bạn cần tìm và đã thấy trong chuyến đi này.

Bãi biển Bình Ba (Khánh Hòa): Sức hút của phong cách hoang dã


Bãi biển Bình Ba (xã Cam Bình - thị xã Cam Ranh) tuy không dài, rộng nhưng có những bãi cát mịn màng, đủ để níu chân những du khách yêu thích vẻ hoang sơ của biển. Du khách có thể ngồi trên những mỏm đá, lắng nghe tiếng sóng vỗ và ngắm mặt trời lặn…

Rời bến đò Cảng Ba Ngòi - Cam Ranh, Bình Ba đón bạn trong không khí nhộn nhịp của một bến tàu gần khu dân cư. Tuy nhiên, phía sau khu dân cư tấp nập lại là một không gian tĩnh lặng đến bất ngờ của những bãi biển. Nơi tôi đặt chân đến đầu tiên là bãi Nồm. Bãi Nồm tuy không dài, rộng như những bãi biển lớn nhưng sự mịn màng của bãi cát trắng thoai thoải đủ để níu bạn dừng chân. Gió mát rười rượi, không gian yên tĩnh. Nước biển trong vắt, ôm lấy những mỏm đá nhiều kiểu dáng.

Ngồi trên những mỏm đá ấy, nghe tiếng sóng rì rào vọng vào vách núi bên cạnh, bạn sẽ cảm nhận được bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp của bãi Nồm. Dân địa phương cho biết, vào mùa hè, bãi Nồm trở thành bãi tắm của ngư dân trên đảo. Những đêm có trăng, phong cảnh đẹp hơn nhiều, du khách ở thị xã Cam Ranh qua đảo thường tụ tập ở đây ngắm biển đêm và sinh hoạt vui chơi đến tận sáng.

Rời bãi Nồm, men theo con đường mòn đầy cây và hoa dại, bạn sẽ đến bãi Chướng. Do cách xa nhà dân nên bãi Chướng còn rất hoang sơ. Bãi Chướng hấp dẫn du khách không phải bởi cát mịn như bãi Nồm, mà bởi những vỏ ốc ngũ sắc rất đẹp, bởi những khối đá nhấp nhô dưới ghềnh, tung bọt trắng xóa, những vách đá dựng đứng cùng một số hang động gợi trí tò mò. Người thích mạo hiểm, có thể men theo sườn núi khám phá các di tích đã hoang phế như ụ đại pháo, lô cốt phòng thủ…, nguyên là khu vực đồn trú của quân Pháp trước đây, hay trèo lên những chóp đá cao ngắm sóng, thưởng thức vẻ đẹp của núi và biển lúc hoàng hôn, hoặc khám phá vẻ đẹp của san hô cùng nhiều loài sò, ốc, hến ngũ sắc sinh sống ở biển.

Bình Ba còn có nhiều bãi biển hoang sơ khác như: Bồ Đề, Nhà Hành, Cây Me, Hòn Cò…, nằm khuất giữa những eo núi và biển mà con người khó đặt chân tới. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Ân - Phó Chủ tịch UBND xã đảo Cam Bình, trong tương lai, sẽ có một đường giao thông chạy quanh đảo, nối các bãi biển với nhau thành một vòng Du lịch khép kín. Đây cũng là ý tưởng mà các nhà làm du lịch hướng tới sau nhiều lần đến đây khảo sát địa hình.

Ở đảo Bình Ba, người dân sống rất hiền hòa, thân thiện. Gần 700 hộ dân đều theo nghề biển, nuôi tôm hùm. Bình Ba vốn nổi tiếng với đặc sản duy nhất là cháo tôm hùm. Buổi trưa, du khách có thể len lỏi qua các con đường nhỏ hẹp, đến thưởng thức món bánh canh, bánh cuốn nhân hải sản trong khu dân cư, hoặc uống cà phê và hát karaoke khi đêm xuống. Ở đảo, không có quán ăn hay dịch vụ phòng nghỉ nên du khách cần nhớ mang theo hành trang khi dã ngoại. Bạn có thể thoải mái nhóm một đống lửa rồi nghỉ qua đêm ngoài trời tại bãi Nồm. Bạn cũng có thể dễ dàng nghỉ nhờ qua đêm ở nhà dân, bởi người Bình Ba rất hiếu khách. Đây cũng là cơ hội để bạn khám phá phong tục, tập quán của cư dân ở vùng đất giàu tiềm năng du lịch này.