Showing posts with label xe-cau. Show all posts
Showing posts with label xe-cau. Show all posts

Wednesday, August 10, 2011

Thuê xe cẩu đi ăn trộm... xe lu

Vào đêm ngày 4/5, tại phường Nghĩa Chánh, TP Quảng Ngãi đã xảy ra một vụ ăn trộm bằng thủ đoạn thuê xe cẩu đi ăn trộm xe lu.

Vào thời điểm nói trên, có một đối tượng thuê một chiếc xe cẩu-tải đến để chở chiếc xe lu mang BKS: 76SA-0179 trên đang đậu tại đường Hai Bà Trưng, TP Quảng Ngãi vào huyện Đức Phổ.

Chiếc xe lu bị trộm đang được Công an tạm giữ và gửi tại Bến xe Quảng Ngãi

Nhưng trong quá trình tài xế xe cẩu nghi ngờ đây là vụ trộm xe, nên tài xế đã báo cho công an. Ngay sau đó Công an thành phố Quảng Ngãi đã tiến hành kiểm tra, lập biên bản và tạm giữ chiếc xe lu này.

Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng làm rõ.

Hoàng Việt Thy

Đón dâu bằng xe cẩu hàng

Không rước dâu bằng Rolls Royce hay đoàn xe ngựa hoành tráng, một cặp đôi Trung Quốc chơi độc bằng cách đi bằng xe cẩu hàng.

Cô dâu chú rể ngồi trên xe cẩu trong ngày cưới của mình. Ảnh: Metro.

Kong Qingyang lần đầu tiên gặp Shen Likun khi Kong là lái máy cẩu còn cô dâu là nhân viên bán hàng. Để đánh dấu ngày trọng đại của cuộc đời, cặp đôi trên tổ chức màn diễu hành bằng xe cẩu trên đường phố Tân Thái, tỉnh Hồ Bắc. 8h sáng, những chiếc xe cẩu được trang trí thật đẹp xuất phát từ nhà chú rể, bỏ qua các thủ tục truyền thống để tới đón cô dâu.

Theo Metro, trong suốt đoạn đường "về dinh", tân lang, tân nương đứng phía trước mũi cẩu có khung sắt có trang trí hình trái tim đỏ thật lớn và tươi cười với mọi người hai bên đường. Người dân địa phương đều tò mò đứng lại xem màn rước dâu độc đáo ấy.

Cô dâu Shen chia sẻ: "Tôi yêu anh ấy và dù Kong có tới rước tôi bằng xe gì thì tôi vẫn cưới anh. Tôi sẽ nhớ mãi màn đón dâu ấn tượng".

Cẩm Vân

Hệ thống vận chuyển tự động

Komatsu đang triển khai một hệ thống vận chuyển tự động tại khu mỏ Rio Tinto (Australia). Đây là hệ thống thế hệ hai được cải tiến từ hệ thống thế hệ đầu tiên hãng lắp đặt ở khu mỏ đồng Codelco (Chile).

Hệ thống bao gồm các thiết bị khai thác mỏ độc lập với máy chủ đạo là 5 ô tô tự đổ điều khiển tự động phát triển dựa trên ô tô tự đổ điều khiển điện 930E. Các thiết bị khác bao gồm máy đào thuỷ lực cỡ lớn PC5500, máy ủi D475A, máy xúc lật WD900 và máy san GD825.

Các ô tô điều khiển tự động dễ dàng tìm đường đi trong khu mỏ phức tạp và có thể vận chuyển 320 tấn mà không cần bất kỳ người điều khiển nào. Tại đây tất cả các thiết bị được vận hành và điều khiển chỉ với các máy tính đặt tại trung tâm điều khiển. Trong tương lai, các thiết bị này sẽ được điều khiển 24/24 từ một trung tâm điều khiển cách đó hơn 1000 km. Tất cả dữ liệu từ ô tô được sử dụng tại khu mỏ này bao gồm thông tin về vị trí và tình trạng đường vận chuyển sẽ được khiểm tra lại thông qua máy tính. Các nhà quản lý hi vọng hệ thống này góp phần tăng năng suất đáng kể ở những nơi mà vấn đề đảm bảo an toàn cho công nhân gặp nhiều khó khăn.

Các yếu tố cơ bản của hệ thống vận chuyển tự động

Hệ thống vận chuyển tự đông là một hệ thống quản lý tổ máy toàn diện và thông minh cho công tác khai thác mỏ. Ô tô tự đổ là những thiết bị được điều khiển với độ chính xác cao nhờ hệ thống định vị GPS. Toàn bộ hệ thống được điều khiển thông qua mạng không dây. Tín hiệu điều khiển và thông tin phản hồi được truyền qua hệ thống này, còn hệ thống GPS là để xác định vị trí của thiết bị.

Khi chất tải, ô tô tự đổ được hướng dẫn tự động để vào vị trí chất tải sau khi máy tính xác định vị trí gầu của máy đào hay máy xúc lật thông qua hệ thống GPS. Máy tính cũng sẽ truyền các thông tin về các vị trí dỡ tải để điều khiển hoạt động dỡ tải của ô tô.

Yêu cầu an toàn được đặt lên hàng đầu nên hệ thống điều khiển tổ máy ngăn chặn được các trường hợp va chạm của các thiết bị di động trên khu mỏ. Trong trường hợp phát hiện thấy chướng ngại vật, các phương tiện di chuyển sẽ giảm tốc độ hoặc dừng lại ngay lập tức đảm bảo cho hệ thống đặc biệt an toàn và tin cậy.

Ngoài ra hệ thống vận chuyển tự động vẫn làm việc ổn định dưới điều kiện khắc nghiệt như đường trơn, mưa axit. Do tối ưu quá trình vận hành nên hệ thống cũng giảm đáng kể giá bảo dưỡng sửa chữa, tiết kiệm năng lượng và khí thải.

Máy bóc mặt đường Dynapac: sự lựa chọn đúng đắn

Theo báo cáo của Lisa Russell, Dynapac vừa giới thiệu dải sản phẩm lớn nhất trên thị trường là loạt máy bóc mặt đường thế hệ thứ hai, đúng theo chiến lược của hãng là mang lại cho khách hàng sự lựa chọn đúng đắn.

Việc tung ra những sản phẩm mới và khánh thành một cơ sở sản xuất mới đã làm cho Dynapac trở nên nổi bật trên thị trường máy bóc mặt đường. Thế hệ máy bóc mặt đường đầu tiên hiện có của Dynapac được giới thiệu rộng rãi trên toàn thế giới mới chỉ cách đây 5 năm, nhưng hãng đã có loạt sản phẩm thứ hai lớn nhất trong lĩnh vực này với sáu kiểu máy cùng rất nhiều tuỳ chọn khác nhau.

Hãng chuyên chế tạo thiết bị đầm và trải đường Dynapac đã sản xuất những chiếc máy bóc mặt đường đầu tiên từ những năm 1980 và quyết định trở lại lĩnh vực này vào cuối những năm 1990. Dynapac công bố mẫu đầu tiên của thế hệ máy mới vào năm 2000. Mẫu máy bóc mặt đường PL2000 S được giới thiệu trên toàn thế giới sau đó hai năm và hiện nay Dynapac đã mở rộng thị phần của mình lên rất nhiều.

Chiến lược phát triển kinh doanh chính là ở các mẫu máy mới, sự gia tăng khả năng lựa chọn cho khách hàng và sự cách tân trong việc hướng dẫn thị trường. Ông Jürgen Seemann, Giám đốc Phát triển Thị trường của Dynapac nói: “Chúng tôi đi theo chiến lược tiến từng bước một, từ mẫu máy này tới mẫu máy khác, từ thị trường này đến thị trường khác”.

Thoả mãn các yêu cầu quốc tế Hiện nay máy bóc mặt đường của Dynapac có thể bắt gặp ở khắp nơi trên thế giới. Tại nhiều nước, việc bóc phá mặt đường cũ thường được giao cho các nhà thầu làm đường thông thường, họ đã rất quen với các thiết bị đầm và trải đường của Dynapac. Những nước khác lại có các nhà thầu chuyên về bóc phá mặt đường và Dynapac đang xây dựng mối quan hệ với họ. Ông Seemann nói: “Chúng tôi đã thành lập đội ngũ nhân viên bán hàng và hỗ trợ kỹ thuật chuyên về máy bóc mặt đường trên toàn thế giới”.

Thiết kế tiên tiến Ngay từ khi bắt đầu, Dynapac đã ưu tiên hàng đầu cho việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và sản xuất máy bóc mặt đường đáp ứng theo yêu cầu của họ. Nguyên lý hoạt động cơ bản của máy bóc mặt đường đã được xác định rõ: dụng cụ đào được lắp trên trống đào quay tròn để làm vỡ lớp mặt đường bằng nhựa asphalt hoặc bê tông, vật liệu đào lên sẽ được chuyển qua băng tải đến một xe tải chờ sẵn bên cạnh.

Khi xâm nhập vào thị trường này, Dynapac đã xem xét kỹ lưỡng quy trình bóc mặt đường để làm cho cách vận hành trở nên đơn giản nhất và cắt giảm được chi phí bảo dưỡng. Ông Seemann giải thích: “Chúng tôi luôn hướng tới việc cung cấp cho khách hàng sự lựa chọn đúng đắn chứ không sao chép các thiết bị khác”.

Dynapac đã giới thiệu nhiều sáng chế được cấp bằng của mình như trục bánh xe có dạng hình bình hành và khớp động lắp trên thiết bị đầm, sáng chế này giúp cho các bánh xe luôn tiếp xúc với mặt đường ngay cả ở những nơi có bề mặt không đồng mức. Điều này tạo nên một cách phát triển sản phẩm mà hiện nay các nhà sản xuất khác đều đã chấp nhận.

Một dải sản phẩm đang tăng trưởng

Sự cân bằng của bốn tham số chính là độ rộng đào, độ sâu đào, công suất và trọng lượng máy, chúng chi phối các tính năng kỹ thuật và tính phù hợp của máy cho mỗi ứng dụng. Các yêu cầu của khách hàng được đáp ứng bằng một loạt các tiêu chuẩn phổ thông về độ rộng, độ sâu, và Dynapac đã sản xuất những cỗ máy đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn kỹ thuật chủ chốt, đồng thời đưa ra rất nhiều tuỳ chọn cho khách hàng.

Dải máy bóc mặt đường của Dynapac trải rộng từ loại máy nhỏ bánh lốp có trống đào rộng 350mm tới các loại bánh xích rộng 2,1m. Mẫu máy nhỏ nhất là PL350S, nó có thể được sử dụng độc lập hoặc phối hợp với các máy lớn để thi công tại những mặt bằng chật hẹp.

Có hai mẫu máy có độ rộng đào 500mm. Loại máy PL600/30S có độ rộng lớn hơn một chút nhưng có độ sâu đào lớn hơn nhiều so với các máy hạng trung khác, nó có độ rộng làm việc là 600mm và có thể đào sâu tới 300mm. Một mẫu máy lớn hơn là PL1000 RS có độ rộng đào 1000mm và độ sâu đào 250mm. Giống như một máy đầm, nó có một băng tải hướng ra phía sau.

Có ba mẫu máy lớn nhất là PL2000 S, PL2000 LS và PL2100 S. Chúng có độ rộng đào 2010mm hoặc 2100mm tuỳ từng mẫu máy và có độ sâu đào 320mm. Khác với các mẫu máy nhỏ, băng tải của những máy này nằm ở phía trước giúp cho tài xế xe tải dễ tiếp cận để hứng vật liệu phế thải mang đi.

Các giải pháp lựa chọn

Mang đến cho khách hàng sự chọn lựa là một phần quan trọng trong triết lý của Dynapac. Tuỳ chọn mới nhất là hệ thống kiểm soát đơn giản mới, dùng cho máy công suất lớn như là sự lựa chọn để thay thế cho hệ thống kiểm soát bằng computer PLC tiên tiến được lắp đặt như thường lệ.

Hệ thống này được phát triển theo yêu cầu của khách hàng làm việc ở những vùng xa xôi. Họ muốn việc bảo trì hệ thống kiểm soát được tiến hành đơn giản hơn. Ông Seemann nói: “Chúng tôi có những khách hàng mà giám đốc phụ trách sửa chữa bảo hành biết cách sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống điện, nhưng họ không có kiến thức về điện tử và computer lắp trên máy này”.

Ba loại máy bóc đường nguội PL 2000 LS, PL 2000 S và PL 2100 S hiện tại có thể đặt mua với tuỳ chọn có hoặc không có hệ thống đó, chính vì thế mà Dynapac là nhà sản xuất duy nhất đưa ra tuỳ chọn cho hệ thống kiểm soát đối với cỡ máy này. Những máy lớn nhất trong dải sản phẩm máy bóc đường của Dynapac hiện có hai cỡ trọng lượng khác nhau là 28,2tấn và 31tấn, đáp ứng cho nhiều lựa chọn để thoả mãn các quy định khác nhau về giao thông của địa phương.

Đơn giản hóa việc bảo trì

Bất kỳ một sự hỏng hóc nào cũng có thể gây ra vấn đề thực sự. Vì vậy độ tin cậy và khả năng bảo dưỡng là những nhân tố then chốt khi bóc mặt đường và đó chính là những vấn đề mà Dynapac đã xác định phải làm cho những chiếc máy của mình trở nên tốt nhất.

Cấp nước là vấn đề thiết yếu trong việc bóc mặt đường, để làm sạch dụng cụ đào, cung cấp nước làm mát và khử bụi – những sản phẩm phụ không thể tránh được. Một khối lượng nước lớn được chất trên máy, khoảng 3700 lít trên mẫu máy Dynapac lớn nhất và 480 lít trên mẫu máy nhỏ nhất. Két nước là thứ mà Dynapac đã nhận thức được là có tác động lớn tới việc giảm chi phí bảo dưỡng máy.

Hãng là đơn vị đầu tiên ứng dụng két nước làm bằng chất dẻo cho các máy đầm của mình.Chất dẻo không đủ bền để chế tạo két nước dung tích lớn cho hạng máy 2m nhưng ở đây, Dynapac đã phá vỡ cách thức truyền thống làm két bằng thép là chế tạo két nước bằng nhôm.

Một ví dụ khác minh chứng cho việc dễ dàng bảo dưỡng là nắp của động cơ được làm bằng sợi thủy tinh trên các máy có công suất lớn. Điều này cho phép thợ bảo dưỡng mở nắp máy một cách dễ dàng và có thể mở rộng hơn để dễ dàng tiếp cận phía trong. Sợi thuỷ tinh còn có ích lợi khác là chống ồn tốt hơn.

Bóc mặt đường là công việc gây tiếng ồn rất lớn, nhưng Dynapac đang cố thực hiện để sao cho có thể giảm tiếng ồn xuống mức thấp nhất, tốt cho cả người điều khiển máy và những người sống gần đó. Những máy lớn nhất của hãng là những máy ít gây ồn nhất so với các máy khác cùng cỡ, độ ồn khi hoạt động chỉ ở mức 106.5db (A).

Ứng dụng công nghệ Hybrid cho máy công trình

Sau một thời gian dài nghiên cứu, đến nay Komatsu đã giới thiệu với thị trường máy đào hybrid PC200-8 là thiết bị xây dựng đầu tiên sử dụng công nghệ hybrid. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn ông Hikosaburo Hiraki - phụ trách phát triển hệ thống Komatsu Hybrid nhằm giảm khí thải CO2 và suất tiêu hao nhiên liệu.

PV: Xin ông giới thiệu tổng quan về hệ thống Komatsu Hybrid

Ông Hiraki: Hệ thống Komatsu Hybrid sẽ chuyển đổi năng lượng phát sinh khi cấu trúc phần trên của máy đào thuỷ lực giảm tốc độ trong khi quay. Năng lượng này sẽ nạp vào tụ điện và sử dụng để bổ sung cho công suất động cơ thông qua máy phát điện khi động cơ tăng tốc độ.

Trong khi các thiết bị tiêu chuẩn thường sử dụng mô tơ thuỷ lực để dẫn động quay cấu trúc phần trên thì hệ thống Komatsu Hybrid phát triển các mô tơ điện chuyên dùng. Thông qua các mô tơ mới này năng lượng tích luỹ được sử dụng trở lại. Đó là nền tảng để phát triển máy đào thuỷ lực hybrid.

So sánh với các máy đào PC200-8, chúng tôi đã giảm trung bình 25% suất tiêu hao nhiên liệu. Hơn nữa trong một số điều kiện làm việc khách hàng chúng tôi đưa ra, mức giảm lớn nhất đạt được là 41% khi mà kết cấu phần trên quay với tần số lớn.

PV: Hệ thống hybrid có mang lại hiệu quả đối với máy đào thuỷ lực?

Ông Hiraki: Thực tế, hệ thống hybrid trên máy đào thuỷ lực hiệu quả hơn ô tô. Khi ô tô di chuyển trên các đường thông thường, người lái thường đạp phanh để giảm tốc độ trung bình 5- 10 phút/lần. Ngược lại, cấu trúc phần trên của máy đào trong một chu kỳ khoảng 10s giảm tốc độ quay 2 lần. Do đó năng lượng tích luỹ được nhiều hơn tức là hệ thống hybrid hiệu quả hơn.

PV: Hệ thống hybrid trên ô tô và máy đào PC200-8 khác nhau như thế nào?

Ông Hiraki: Năng lượng động lực của máy đào PC200-8 cũng như là các ô tô tiêu chuẩn. Năng lượng động lực tỉ lệ với tích số khối lượng và binh phương vận tốc. Do vậy, chỉ có một sự khác nhau nhỏ đó là ô tô nhẹ và di chuyển nhanh hơn còn máy đào PC200-8 nặng nhưng di chuyển chậm hơn. Nhưng do kết cấu phần trên giảm tốc độ quay thường xuyên vì thế năng lượng thu được rất lớn. Điểm khác cơ bản là năng lượng cung cấp từ tụ điện sử dụng để hỗ trợ công suất động cơ khi tăng tốc còn của ô tô là để thay thế năng lượng cháy của động cơ.

PV: Nhiều người thất vọng vì thấy PC200-8 cũng như các mẫu máy đào truyền thống. Lý do tại sao nhìn bề ngoài các máy đều như nhau?

Ông Hiraki: Chúng tôi phát triển sản phẩm dựa trên ý tưởng kết hợp sản phẩm truyền thống với hệ thống hybrid. Do vậy hình dạng của chúng dường như là giống nhau. Lý do là để sản xuất hàng loạt trên dây chuyền tiêu chuẩn đã có tuy nhiên hình dạng và kích thước không hoàn toàn như các sản phẩm truyền thống.

Về chính sách chung của chúng tôi, các chi tiết chính chúng tôi tự sản xuất. Động cơ và các thiết bị thuỷ lực chúng tôi tự sản xuất nhưng mô tơ điện là một lĩnh vực khác. Vì thế sử dụng nguồn lực bên ngoài là bắt buộc để giảm giá thành và đưa đến cho khách hành những sản phẩm tốt nhất.

PV: Có những khó khăn gì trong quá trình phát triển sản phẩm?

Ông Hiraki: Vì điện áp sử dụng cho hệ thống hybrid cao hơn các thiết bị xây dựng truyền thống nên chúng tôi đã phải thận trọng để thiết kế an toàn. Các công tắc nguôn đơn giản là không cần thiết để thiết bị an toàn và chúng tôi cần quan tâm đến các kịch bản trước khi quyết định thiết kế an toàn nhất có thể. Chúng tôi cũng phát triển hệ thống hiển thị và hệ thống phân tích lỗi để hỗ trợ người điều khiển trong quá trình sử dụng thiết bị.

PV: Ông có thể cho biết kết quả thực tế khách hàng sử dụng như thế nào?

Ông Hiraki: Một số khách hàng đã đạt được 30-40% mức giảm nhiên liệu tiêu hao. Qua các bài kiểm tra của chúng tôi, mức giảm chung là 25%.